Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế về giáo dục

Hội nhập quốc tế cùng với việc thực thi các cam kết về GATS trong giáo dục đang đặt giáo dục đại học Việt Nam trước những cơ hội mới cùng những thách thức mới. Việc nhận diện và phân tích các cơ hội và thách thức này đã được thực hiện tại nhiều hội thảo trong nước cũng như tại các diễn đàn quốc tế về giáo dục đại học Việt Nam. Vấn đề đặt ra cấp bách là Việt Nam cần sớm xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, mềm dẻo và linh hoạt, tạo điều kiện để giáo dục đại học tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức, tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro trên con đường phát triển theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá.

Hoàn chỉnh môi trường pháp lý hiện nay của giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục đại học nói riêng, là điều kiện cơ bản để triển khai có hiệu quả và hiệu lực hệ thống chính sách nói trên.
Điều đó không chỉ là mối quan tâm riêng của nước ta mà đã trở thành mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Cải cách giáo dục đại học, bãi bỏ các định chế, cởi trói giáo dục, ngăn ngừa độc quyền... là những nội dung mới được đưa vào tiến trình xây dựng mới hoặc sửa đổi pháp luật giáo dục đại học tại Hà Lan, áo, Nhật, Đài Loan, Xingapo, Malayxia, Hàn Quốc...

Ở góc độ quốc tế, UNESCO đã có nhiều cố gắng trong việc chia sẻ thông tin, tư vấn và trợ giúp để các nước đang phát triển có được những khuyến cáo cần thiết trong việc đối diện với một số vấn đề nẩy sinh trong quá trình hội nhập. Hai vấn đề hiện đang được quan tâm nhiều nhất là vấn đề bảo đảm chất lượng và bảo vệ người học trước những tác động tiêu cực của xu thế thị trường hoá giáo dục đại học. Vì thế UNESCO đã có những văn bản hướng dẫn cần thiết để bổ sung, hoàn thiện pháp luật giáo dục đại học ở các nước đang phát triển.

Riêng trong phạm vi khối ASEAN, Tuyên bố chung "Thăng Long - Hà Nội về không gian giáo dục ASEAN" ngày 23/11/2007 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám cũng đặt giáo dục đại học Việt Nam trước một cơ hội mới. Có thể coi đây là một tuyên bố Bologna của ASEAN để giáo dục đại học của từng nước thành viên được tái cơ cấu, hướng tới hội nhập khu vực và hội tụ chất lượng, tạo ra một không gian giáo dục đại học ASEAN cạnh tranh hơn và hấp dẫn hơn đối với sinh viên khu vực và thế giới.
Trong bức tranh chung đó với rất nhiều vấn đề mới về thể chế đang được đặt ra, việc xây dựng Luật Giáo dục đại học đã được khởi động. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, Luật Giáo dục đại học sẽ có mục đích chính là tạo hành lang pháp lý để giáo dục đại học Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới.

Hành lang pháp lý này sẽ phải tính đến một số đổi mới trong giáo dục đại học mà chỉ cách đây hai năm thôi, khi Việt Nam chưa là thành viên chính thức của WTO, chúng ta chưa lường thấy hết.
Đổi mới mô hình cung ứng giáo dục đại học

Cách đây 21 năm, tại Hội nghị Nha Trang, các tiền đề đổi mới giáo dục đại học đã được vạch ra. Các tiền đề đổi mới này là những cố gắng đổi mới tư duy giáo dục nhằm tìm ra cách quản lý giáo dục và tổ chức thực hiện giáo dục phù hợp với yêu cầu đổi mới toàn diện của đất nước trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một trong những đặc trưng cơ bản của tiến trình đổi mới này là sự ra đời của các nhà cung ứng mới trong giáo dục đại học: đó là các tổ chức, cá nhân trong nước đứng ra thành lập các cơ sở giáo dục bán công, dân lập, tư thục; các tổ chức, cá nhân ngoài nước đứng ra thành lập các cơ sở giáo dục nước ngoài. Một mô hình cung ứng giáo dục mới đã hình thành, với ba đặc trưng chính là: Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo nhưng không còn giữ độc quyền trong cung ứng giáo dục; các tổ chức, cá nhân cùng tham gia cung ứng giáo dục; tuy nhiên cơ chế cạnh tranh chưa hình thành. Mô hình này thường được gọi là mô hình gần như độc quyền hay chuẩn độc quyền* (quasi-monopoly).

Sau khi gia nhập WTO, một mô hình cung ứng giáo dục mới sẽ hình thành. Đó là vì Việt Nam có cam kết khá sâu và rộng về thực thi Hiệp định GATS trong lĩnh vực giáo dục. Theo đó, ta mở cửa cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường giáo dục đại học trong các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh, kinh tế, kế toán, ngôn ngữ và luật quốc tế. Sự hiện diện thương mại của các cơ sở giáo dục nước ngoài về nguyên tắc là không hạn chế đối với các cơ sở liên kết kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO, và cũng không hạn chế đối với các cơ sở 100% vốn nước ngoài kể từ sau ngày 1/1/2009. Trong khi đó, thị trường giáo dục đại học Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một thị trường giàu tiềm năng do hệ thống các trường cao đẳng, đại học Việt Nam hiện nay, cũng như trong trung hạn, hoàn toàn không có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu đại chúng hoá và nâng cao chất lượng theo tỉnh thành NQ 14. Vì vậy với việc thực thi các cam kết về GATS trong giáo dục, bức tranh giáo dục đại học Việt Nam sẽ có biến động mạnh mẽ với sự ra đời của khá nhiều cơ sở giáo dục nước ngoài. Cục diện cạnh tranh sẽ hình thành và phát triển do người học được nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn trường học.
Như vậy, sau khi gia nhập WTO, giáo dục đại học Việt Nam sẽ đứng trước một thách thức mới và cũng là cơ hội mới: chấp nhận cơ chế cạnh tranh thị trường. Mô hình cung ứng giáo dục sẽ không còn là mô hình chuẩn độc quyền như trước đây nữa mà mang thêm yếu tố cạnh tranh thị trường. Tuy nhiên, đây sẽ là một thị trường đặc biệt. Trong thị trường này, cơ chế cạnh tranh được phát huy để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo; nhưng Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, có sự can thiệp cần thiết để giảm thiểu các tiêu cực của thị trường, bảo đảm công bằng trong giáo dục.

Một thị trường như vậy chỉ gần đúng là thị trường và được gọi bởi tên riêng là chuẩn thị trường (quasi-market). Nói cách khác, bước vào giai đoạn mới, giáo dục đại học Việt Nam sẽ chuyển từ mô hình cung ứng chuẩn độc quyền sang mô hình cung ứng chuẩn thị trường. Nếu bước chuyển thành công thì giáo dục đại học Việt Nam sẽ tận dụng được những cơ hội mới của tiến trình hội nhập quốc tế để tạo chuyển biến cơ bản về quy mô, chất lượng, hiệu quả theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá.

Đó chính là đặc trưng mới nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Việc xây dựng Luật Giáo dục đại học cần hết sức chú trọng đến đặc trưng mới này. Điều đó có nghĩa là cần có những nghiên cứu cần thiết để xây dựng thể chế chuẩn thị trường giáo dục đại học, tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành đúng đắn và có hiệu quả của chuẩn thị trường này, phù hợp với tầm nhìn, sứ mệnh và định hướng phát triển của giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn mới.

Đổi mới mô hình quản lý giáo dục đại học

Sự thay đổi về mô hình cung ứng giáo dục nêu trên đòi hỏi có sự thay đổi tương ứng về mô hình quản lý giáo dục đại học giữa ba cấp bộ (cấp trên), trường (cấp giữa) và khoa/bộ môn (cấp dưới).
Cho đến cuối những năm 1980, mô hình quản lý đặc trưng của châu âu lục địa là kiểu nặng trên và dưới: trên, tức là cấp Chính phủ/bộ giữ quyền tập trung về tổ chức, tài chính, nhân sự; dưới, tức là cấp khoa/ bộ môn giữ quyền tuyệt đối về chuyên môn trên cơ sở tự do học thuật. Trong khi đó mô hình quản lý giáo dục đại học Mỹ là kiểu nặng giữa và dưới, tập trung quyền lực chủ yếu ở cấp trường để đảm bảo sự gắn kết giữa nhà trường với môi trường kinh tế - xã hội, đồng thời - định hướng quyền tự do học thuật ở cấp khoa/bộ môn theo nguyên tắc khắc phục tình trạng tháp ngà.
Vào đầu những năm 1990, do tác động của xu thế thị trường hoá trong giáo dục đại học, mô hình quản lý giáo dục đại học của các nước châu âu, chuyển dần sang mô hình nặng giữa và dưới đặc trưng của đại học Mỹ.

Ở nước ta, cho đến trước Luật Giáo dục 1998, quản lý giáo dục đại học là quản lý tập trung, theo kiểu nặng trên về phân chia thẩm quyền giữa ba cấp là Bộ, trường và khoa. Với quy định về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học trong Luật Giáo dục 1998, các nhà hoạch định chính sách chủ trương thiết lập kiểu nặng giữa trong mô hình quản lý giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên, từ đó đến nay, gần 10 năm đã trôi qua, mô hình này vẫn chưa thực sự được xác lập bởi lẽ ngay đến những thiết chế cơ bản của nó là việc thành lập hội đồng trường và công tác đảm bảo chất lượng vẫn chưa hình thành trong nhà trường. Vì vậy, chỉ có thể nói là giáo dục đại học Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình quản lý từ kiểu nặng trên sang kiểu nặng giữa.

Trong khi đó, như đã phân tích ở trên, với việc thực thi các cam kết về GATS trong giáo dục, giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới sẽ chuyển từ mô hình cung ứng chuẩn độc quyền sang chuẩn thị trường. Bước chuyển của mô hình cung ứng đó đòi hỏi có bước chuyển tương ứng của mô hình quản lý từ kiểu nặng giữa sang kiểu nặng giữa và dưới. Đặc trưng cơ bản của sự phân chia thẩm quyền theo kiểu này là Nhà nước sẽ chỉ tập trung vào quản lý vĩ mô, chuyển vai trò từ kiểm soát sang giám sát; nhà trường tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong công tác tổ chức, nhân sự và tài chính; khoa/bộ môn, mà trực tiếp là đội ngũ giảng viên, có tiếng nói quyết định trong công tác chuyên môn.

Luật Giáo dục đại học cần có quy định để các nhà quản lý giáo dục ở cả 3 cấp bộ, trường và khoa/bộ môn có nhận thức, cơ sở pháp lý và hành động thống nhất để sớm chuyển sang mô hình quản lý kiểu mới, đảm bảo để đội ngũ giảng viên chuyển từ vai trò thụ động hiện nay sang vai trò chủ động trong hoạt động chuyên môn, bao gồm tuyển sinh, xây dựng chương trình, tổ chức quá trình đào tạo, hoạt động khoa học - công nghệ, kể cả hợp tác quốc tế trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Điều đó sẽ hoàn thiện và nâng cao giá trị pháp lý của các yêu cầu về đổi mới cơ chế quản lý quy định trong NQ14. Đồng thời, tạo môi trường pháp lý cho việc hiện thực hoá một yêu cầu đang được đặt ra cấp thiết hiện nay là đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Đổi mới quan hệ công lập - tư thục
Ngày nay, trong bức tranh chung của giáo dục đại học thế giới, giáo dục công lập vẫn đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, do xu thế thương mại hoá giáo dục đại học và việc phát triển giáo dục xuyên biên giới trong tiến trình hội nhập, bức tranh giáo dục đại học thế giới đang có những biến động đáng kể.

Trước hết, do yêu cầu đại chúng hoá giáo dục đại học, các trường cao đẳng, đại học tư thục đang phát triển mạnh mẽ ở khu vực Châu Mỹ La tinh và Đông Á.

Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu học tập ở các nước đang phát triển, nhiều trường đại học công lập ở các nước phát triển, vốn coi giáo dục là một lợi ích công, cũng tham gia vào việc cung ứng dịch vụ giáo dục xuyên biên giới như một cơ sở tư thục.

Tiếp nữa là việc xuất hiện các nhà cung ứng giáo dục mới trên phạm vi toàn cầu. Đó là các công ty thương mại, các tập đoàn đại học, cung ứng chương trình giáo dục và dịch vụ giáo dục vì mục đích lợi nhuận. Hoạt động chủ yếu của họ là giáo dục và đào tạo chứ không phải nghiên cứu khoa học. Từ đó hình thành một quan hệ đối tác mới giữa các trường đại học truyền thống và các nhà cung ứng giáo dục mới. Trước đây là quan hệ đối tác học thuật hoặc nghiên cứu giữa các trường đại học với nhau. Giờ đây, hình thành thêm quan hệ đối tác mang nội dung kinh tế và yếu tố thương mại giữa trường đại học với các nhà cung ứng giáo dục quốc tế.

Vì thế, ranh giới phân biệt công lập và tư thục trở nên khó rạch ròi. Điều này cũng đã diễn ra ở Việt Nam từ nhiều năm nay. Các cơ sở giáo dục đại học công lập lại hoạt động như một cơ sở tư thục xét ở góc độ liên kết với các cơ sở nước ngoài để tuyển sinh và thu học phí cao. Nhưng khi hoạt động như một cơ sở tư thục, các trường cao đẳng, đại học công lập có lợi thế cạnh tranh hơn nhiều so với các trường cao đẳng, đại học tư thục vì được hưởng nhiều ưu đãi sẵn có của nhà nước. Vì thế dẫn đến tình trạng không bình đẳng trong cạnh tranh giữa trường công lập và trường tư thục.
Để khắc phục tình trạng không bình đẳng trong cạnh tranh, GATS đưa ra hai quy tắc quan trọng. Thứ nhất là quy tắc tối huệ quốc, nhằm bảo đảm có sự đối xử như nhau giữa các nhà đầu tư nước ngoài. Tiếp nữa là quy tắc đối xử quốc gia, nhằm bảo đảm không có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước.

Hiện nay, trong phần cam kết chung của Việt Nam về GATS, có nói rõ là chưa cam kết thực hiện quy tắc đối xử quốc gia đối với sự hiện diện thương mại của các cơ sở giáo dục nước ngoài. Điều đó bảo đảm để nhà nước duy trì được các ưu đãi và trợ cấp đối với các cơ sở giáo dục trong nước.
Tuy nhiên, để nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống giáo dục đại học nước ta trong quá trình hội nhập, rất cần thực hiện ngay “quy tắc đối xử quốc gia trong nước”, nghĩa là giảm thiểu sự phân biệt đối xử giữa trường công lập và trường tư thục trong nước. Luật Giáo dục 2005 là một bước tiến quan trọng theo định hướng này. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, các trường cao đẳng, đại học tư thục Việt Nam chủ yếu là các trường tư thục độc lập hầu như không được sự hỗ trợ nào từ nguồn tài chính của nhà nước.

Trong khi đó, các trường cao đẳng, đại học công lập, ngoài việc hưởng ngân sách nhà nước, lại được quyền tiếp cận với các nguồn thu khác như một cơ sở tư thục. Để tiến tới một cục diện cạnh tranh bình đẳng hơn, cần tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục tư thục cũng được tiếp cận với nguồn tài chính của nhà nước thông qua cơ chế cạnh tranh trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, tham gia dự án ODA, bồi dưỡng giáo viên...

Luật Giáo dục đại học sẽ tạo nên một bước tiến mới trong giáo dục đại học Việt Nam nếu có những quy định nhằm hạn chế dần sự phân biệt đối xử giữa công lập và tư thục trong nước. Điều đó cũng là một bước chuẩn bị tích cực để sau này chúng ta tiến tới cam kết thực hiện quy tắc đối xử quốc gia trong việc thực thi GATS.

Phạm Đỗ Nhật Tiến
Theo Giáo Dục Thời Đại

Lượt xem: 4497