Một số đặc điểm của ngành giáo dục liên quan đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của ngành giáo dục trong đó việc đưa các kiến thức pháp luật vào giảng dạy trong nhà trường được thực hiện từ những năm 80 của thế kỷ 20. Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, công tác PBGDPL càng trở nên quan trọng hơn. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg về công tác PBGDPL. Cả hai văn bản này đều nhấn mạnh vai trò, vị trí của công tác PBGDPL của ngành giáo dục và giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp các bộ, ngành liên quan soạn thảo, trình Thủ tướng phê duyệt đề án nâng cao chất lượng công tác PBGDPL trong nhà trường trong năm 2008. Như vậy, PBGDPL trong nhà trường một mặt nằm trong “quỹ đạo” của công tác PBGDPL nói chung, đồng thời lại phải được triển khai trên cơ sở những đặc thù của ngành. Dưới đây là một số đặc điểm xin được chia sẻ.

Mục tiêu giáo dục toàn diện đòi hỏi phải tiến hành PBGDPL

Điều 2 Luật giáo dục khẳng định: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, ngành giáo dục có trọng trách lớn lao đối với sự phát triển toàn diện con người Việt Nam trong đó có việc hình thành ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý trong nhân dân. Hoạt động giáo dục pháp luật là một hoạt động giáo dục cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung. Nội dung giáo dục pháp luật là một phần của nội dung chương trình giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân. Nói cách khác, giáo dục pháp luật là một hoạt động tự thân, thường xuyên của ngành giáo dục khác một số ngành khác. Giáo dục pháp luật tốt không chỉ góp phần ổn định hoạt động của ngành mà còn góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục. Để đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện thì phải kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo. Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, công tác PBGDPL của ngành giáo dục cần được tăng cường thường xuyên, liên tục, ở tầm cao hơn nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.

Đặc điểm này đặt ra nhiệm vụ gắn kết giữa giáo dục chính khoá với giáo dục ngoại khoá, xây dựng kế hoạch PBGDPL là một phần quan trọng của kế hoạch hoạt động thường xuyên của toàn ngành cũng như từng cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục. PBGDPL phải được triển khai một cách hệ thống, căn cơ chứ không thể là việc tuỳ hứng, là môn phụ.

Vị trí quan trọng của người học trong xã hội

Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Người học bao gồm: Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non; Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, trường dự bị đại học; Sinh viên của trường cao đẳng, trường đại học; Học viên của cơ sở đào tạo thạc sĩ; Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sĩ; Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên.

Năm học 2006-2007, cả nước có 3.147.252 trẻ em ở giáo dục mầm non, 7.041.302 học sinh tiểu học, 6218.457 học sinh trung học cơ sở, 3.111.280 học sinh trung học phổ thông, 1.522.000 học sinh học nghề, 515.670 học sinh trung cấp chuyên nghiệp, 1.503.846 sinh viên đại học, cao đẳng, 42.979 học viên cao học và nghiên cứu sinh. Đây là một nhóm xã hội đông đảo chiếm khoảng 1/4 dân số. ý thức pháp luật của người học có quan hệ hữu cơ với ý thức pháp luật xã hội.

Vị trí của người học thể hiện ở các khía cạnh sau:

Một là, vì có số lượng đông nên nếu người học có ý thức pháp luật cao thì tỷ trọng số người có ý thức pháp luật trong xã hội cũng cao. Vai trò trung tâm văn hoá (trong đó có văn hoá pháp lý) ở khu vực của nhiều cơ sở giáo dục hiện nay là minh chứng cho vấn đề này.

Hai là, vị trí tương lai của người học quy định vị trí quan trọng của họ bởi lẽ việc xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải có ý thức pháp luật cao. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá thì các quan hệ quốc tế cũng phải được xây dựng trên nền tảng pháp luật. Điều đó chỉ có được nếu nhà trường hôm nay chủ động chuẩn bị cho người học những hiểu biết và cả tâm thế để xử lý các quan hệ trong và ngoài nước bằng pháp luật và theo pháp luật.

Ba là, người học có ý thức pháp luật tốt sẽ lan toả, ảnh hưởng đến những người xung quanh (ngay cả trẻ em mẫu giáo cũng có thể biết nhắc bố mẹ dừng lại trước đèn đỏ nếu được giáo dục về quy tắc giao thông).

Vừa qua, Bộ Tư pháp tổ chức khảo sát việc dạy và học môn Giáo dục công dân ở một số trường cho thấy ở đâu chú ý đầu tư cho môn học này thì học sinh rất hứng thú với môn học (có nơi nói đây là môn học giúp học sinh “chóng khôn”!).

Mạng lưới trường lớp rộng khắp

Một thế mạnh của ngành giáo dục là mạng lưới trường lớp tạo thành hệ thống rộng khắp ở mọi miền của đất nước. Năm học 2006-2007, cả nước có 39.116 trường học trong đó: giáo dục mầm non có 11.509 trường, giáo dục phổ thông có 27.595 trường; dạy nghề có 861 trường, trung cấp chuyên nghiệp có 269 trường, đại học, cao đẳng có 322 trường. Bên cạnh hệ thống cơ sở giáo dục chính quy, mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên cũng phát triển mạnh với 62 trung tâm GDTX cấp tỉnh, 577 trung tâm GDTX cấp huyện, 7434 trung tâm học tập cộng đồng.

Hệ thống này được phân bổ ở mọi miền của đất nước, vì vậy có điều kiện tham gia vào công tác PBGDPL cho mọi người dân từ miền núi đến miền xuôi, từ thành thị đến nông thôn. Các cơ sở giáo dục với chức năng nhiệm vụ chuyên môn của mình có khả năng tổ chức công tác PBGDPL một cách trực tiếp, liên tục, bài bản và hiệu quả cao. Có thể nói không có ngành nào có hệ thống cơ sở rộng khắp, được tổ chức chặt chẽ như ngành giáo dục. Hệ thống cơ sở này tạo khả năng thực hiện nhiệm vụ PBGDPL vừa thống nhất từ Trung ương xuống, vừa đảm bảo phù hợp với đặc thù của các đối tượng ở từng vùng miền khác nhau. Mặt khác, các cơ sở giáo dục có cơ sở vật chất (phòng học, tủ sách, công cụ tin học...) thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động PBGDPL. Nếu được quan tâm đúng mức thì các cơ sở giáo dục sẽ có đóng góp to lớn không chỉ vào việc PBGDPL trong ngành mà còn là một kênh phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả cao trong xã hội.

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đông đảo, có điều kiện và khả năng tham gia PBGDPL

Năm học 2006-2007, toàn ngành giáo dục có 1.133.083 nhà giáo bao gồm 166.804 giáo viên mầm non; 344.521 giáo viên tiểu học; 310.620 giáo viên THCS; 125.460 giáo viên THPT; 14.540 giáo viên TCCN; 53.518 giảng viên đại học, cao đẳng. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có hơn 10.000 người làm việc ở Bộ, sở, phòng giáo dục và đào tạo; 80.000 làm việc ở tại các cơ sở giáo dục. Hầu hết đội ngũ này có trình độ học vấn, chuyên môn cao, nhiều người có khả năng sư phạm tốt. So với yêu cầu của người làm công tác PBGDPL nêu thì đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã đạt được những yêu cầu khá cơ bản. Đây có thể coi là thế mạnh cơ bản của ngành giáo dục mà ngành khác không có được. Có thể coi các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục vừa là người giảng dạy văn hoá, vừa là người giáo dục nhân cách, đồng thời là những báo cáo viên pháp luật tiềm năng. Nếu đựơc bồi dưỡng về trình độ pháp lý nhất định thì đội ngũ này có thể đóng góp rất hữu ích vào sự nghiệp PBGDPL nói chung. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, nơi còn thiếu nhiều phương tiện thông tin hiện đại thì vai trò của người thầy trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân là rất quan trọng.

Cơ sở chính trị, pháp lý đối với công tác giáo dục pháp luật của ngành giáo dục ngày càng đầy đủ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho công tác PBGDPL của ngành giáo dục.

Ngay từ Đại hội lần thứ V, Văn kiện Đảng đã nêu rõ việc “...đưa việc giáo dục pháp luật vào các trường học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật”. Năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW trong đó giao nhiệm vụ cho “Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện chương trình, giáo trình, sách giáo khoa về pháp luật phục vụ trực tiếp cho công tác PBGDPL trong nhà trường theo phương châm kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. Việc đưa nội dung pháp luật vào giảng dạy trong nhà trường phải được chọn lọc hợp lý, có hệ thống và bảo đảm hiệu quả thiết thực”.

Ngày 17/12/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP trong đó ghi rõ nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo (i) Tổ chức việc giảng dạy các kiến thức pháp luật phù hợp ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Xây dựng, hoàn thiện chương trình, giáo trình, sách giáo khoa giảng dạy pháp luật, giáo dục công dân (ii) Đổi mới, nâng cao chất lượng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trong đó có hoạt động ngoài giờ lên lớp (iii) Rà soát, có kế hoạch bổ sung, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy môn pháp luật và môn giáo dục công dân (iv) Chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng đề án nâng cao chất lượng công tác PBGDPL trong nhà trường trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2008. Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình PBGDPL từ năm 2008-2012 sau khi khẳng định giải pháp “ Nâng cao chất lượng dạy và học pháp luật trong nhà trường ở các cấp học và trình độ đào tạo” là một trong các hình thức PBGDPL cơ bản đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện năm nhiệm vụ trên cơ sở cụ thể hoá Nghị quyết 61/2007/NQ-CP. Ngày 17/8/2007, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 45/2007/CT-BGDĐT về việc tăng cường công tác PBGDPL trong ngành giáo dục với 9 điểm cụ thể về nhận thức, nội dung, hình thức cũng như các điều kiện bảo đảm cho công tác PBGDPL trong toàn ngành.

Bên cạnh đó, các văn bản QPPL quy định về chương trình giáo dục, thiết bị giáo dục...do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mấy năm gần đây đã đề cập nhiều đến nhiệm vụ cũng như điều kiện tổ chức nâng cao chất lượng PBGDPL trong chương trình chính khoá ở các cấp học, trình độ đào tạo.

Có thể còn một số vấn đề quan trọng khác liên quan đến công tác PBGDPL của ngành song qua hoạt động thực tiễn mấy năm vừa qua cho thấy, để xác định nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho công tác này thì việc nhìn nhận sâu sắc năm đặc điểm trên đây là rất cần thiết.

Nguyễn Huy Bằng (Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế)
Theo báo Giáo dục và thời đại

Lượt xem: 6224